Môn Đồ Hóa Muôn Dân

Bài học 24: Ăn Năn

Tân Ước Lược Khảo

Chúa Giê-xu kể một ẩn dụ dạy về sự ăn năn và không chịu ăn năn. Ẩn dụ này mô tả một người Pha-ri-si và một người thâu thuế đang cầu nguyện tại đền thờ. Người Pha-ri-si chỉ tập trung vào chính mình, trong khi người thâu thuế tự hạ mình xuống và cầu xin lòng nhân từ của Chúa. Chúa Giê-xu có lần gặp một người thâu thuế ăn năn tên là Xa-chê, người bày tỏ sự ăn năn thật là như thế nào. Ông ta thay đổi cách sống và hứa bồi thương mọi người mà ông đã lừa dối. Chỉ tội nhân ăn năn mới được tha thứ.

“MỘT CỨU CHÚA ĐANG TÌM KIẾM”

 Câu Chuyện Chữa Lành Tuyệt Diệu (Luca 8:26-39)

Những ai đã từng làm việc trong các bệnh viện tâm thần, trước các bệnh nhân ắt sẽ rất cảm kích câu chuyện nầy. Bất kỳ ai có quan hệ với các thành viên trong bệnh viên tâm thần hoặc có những người thân yêu mắc phải căn bệnh khổ sở nầy, thì chắc rằng họ có thể đánh đổi mọi thứ để có thể nhìn thấy người thân yêu của họ trở lại bình thường. Các chuyên gia y tế là những người làm việc với những người bị bịnh tâm thần, cần nên biết thêm cách mà Chúa Jêsus đã thực hiện phép lạ chữa lành nầy.

Khi Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài đi đến vùng Giêrasê, họ gặp phải một người bị quỷ ám. Vừa gặp, người đàn ông tội nghiệp nầy liền hỏi Chúa Jêsus rằng: “Lạy Đức Chúa Jêsus, tôi với Ngài có sự chi chăng?” (8:28). Nhiều người trên thế gian nầy hiện đang gặp rất nhiều vấn đề rắc rối nhưng họ không nghĩ rằng Chúa Jêsus và sự cứu rỗi của Ngài sẽ có thể đem lại sự giải quyết thích đáng cho họ.  Ho  bị  chính  căn  bệnh  kho  sơ  của  mình  che  ngư  đến  nỗi  họ không thể nào nghĩ rằng Chúa Jêsus sẽ chữa lành cho họ, hoặc Ngài sẽ giải cứu họ thoát khỏi những nan đề của họ. Trong câu chuyện rất hay nầy, người bị quỷ ám đó đã khám phá ra rằng Chúa Jêsus và sự cứu rỗi của Ngài sẽ tác động đến hoàn cảnh sống thật tồi tệ của ông.

Còn có một sứ điệp quan trọng khác trong câu chuyện hấp dẫn nầy. Sau khi được chữa lành, ông ta bèn xuống thuyền muốn cùng đi với Chúa Jêsus. Chúng ta có thể dễ dàng đoán được lý do tại sao người ấy muốn rời khỏi nơi mà ai nấy cũng đều biết ông đã trải qua sự đau khổ tột cùng trong nhiều năm qua. Chúng ta cũng có thể nhận biết được lý do tại sao người ấy lại muốn ở cùng Chúa Jêsus.

Thế nhưng, Chúa bảo người rằng: “Hãy về nhà ngươi, thuật lại mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho ngươi!” (8:39). Có bản dịch khác nói rằng người ấy phải nói ra cho người ta biết những điều vĩ đại mà Đức Chúa Trời đã làm cho người. Chính người là phép lạ của Chúa Jêsus, và giờ đây ông ta trở thành nhà truyền giáo cho Ngài, ông ta phải đi tỏ cho những người mà ông quen biết về câu chuyện đã xảy ra với ông.

Điều nầy đem lại cho chúng ta định nghĩa thế nào là một nhà truyền giáo. Nếu Đức Chúa Trời đa làm những điều vĩ đại cho bạn, thì sau đó bạn sẽ trở thành nhà truyền giáo. Giống như cây nến đặt trên giá đèn, hoặc như một thành phố toạ lạc trên một ngọn đồi, chúng sẽ không thể nào bị che khuất, chúng ta hãy đi ra làm chứng và nói cho người khác biết những điều kỳ diệu mà Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Công việc truyền giáo được giao cho chúng ta hãy bắt đầu tại nơi khó khăn nhất, ấy là nơi mà người ta biết chúng ta rõ nhất, và là nơi ưu tiên số một – quê nhà của chính chúng ta.

Phép lạ chữa lành nầy thực ra là một sự đuổi quỷ. Chúa Jêsus trực tiếp gọi tên và đuổi những quỷ dữ đang ở trong người nầy. Giả sử ngày hôm nay có Chúa Jêsus ở đây, liệu Ngài có chữa lành cho một người cũng bị quỷ ám tương tự như thế dưới hình thức nào đó hay không? Hay Ngài sẽ bảo tình trạng của người nầy là “bị bệnh tâm thần phân liệt với chứng hoang tưởng”, rồi tống khứ anh ta vào một nhà thương điên nào đó, để rồi bắt anh ta phải chịu sống đời sống của một người điên suốt phần đời còn lại của mình? Bạn nghĩ sao?

Người Pharisi Và Kẻ Thâu Thuế (Luca 18: 9-14)

Ở đây, chúng ta gặp hai người cầu nguyện với hai thái độ và nội dung khác nhau. Điều quan trọng đáng nói ở hai con người nầy ở chỗ kết thúc của câu chuyện, một người nhờ Chúa Jêsus được xưng công bình còn kẻ kia thì không – nghĩa là một người được cứu còn một người thì không. Hay nói cách khác, một người được nhận ân điển và người kia thì không.

“Được xưng công bình” có nghĩa là, “Được xem như thể tôi chưa từng phạm tội”. Thêm vào đó, nó còn có nghĩa là Đức Chúa Trời kể chúng ta là công bình. Sách Rôma sẽ cho chúng ta biết một cách toàn diện về việc Đức Chúa Trời đã thực hiện điều nầy ra sao. Trong ẩn dụ nầy, Chúa Jêsus nói cho chúng ta biết Tin lành là chân lý. Theo Ngài, để được xưng công bình thì phải cầu nguyện như kẻ thâu thuế nọ: “Kính lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!”

Chúng ta đọc thấy rằng người Pharisi đã cầu nguyện “với chính mình”. Lời cầu nguyện của ông ta được bắt đầu với bản thân mình, nó chỉ dành để nói về ông ta, và nó kết thúc cũng chỉ với chính ông ta mà thôi. Đó là lời cầu nguyện không bao giờ vượt qua được con người ông ta. “Cầu nguyện” theo nghĩa đen có nghĩa là “cầu xin”. Và theo định nghĩa nầy thì người Pharisi nọ đã chẳng cầu nguyện gì cả vì anh ta đâu có cầu xin Đức Chúa Trời điều gì.

Ẩn du nầy cho chúng ta biết những ke nào tư cho mình la công bình thì sẽ xem thường người khác. Làm sao để một người là tội nhân trở nên công bình được? Đức Chúa Trời có thể xưng một tội nhân là công bình bằng cách nào? Có phải là kết quả của sự tự nổ lực không? Có phải tôi là người công bình hoặc được xưng công bình bởi vì tôi tin vào những nổ lực của bản thân tôi để trở nên công bình không? Ẩn dụ nầy trả lời là “Không!” Đức Chúa Trời sẽ xưng tôi là công bình “như thể tôi chưa hề phạm tội” vậy. Khi tôi thừa nhận mình là tội nhân thì tôi vẫn không thể tự cứu chính mình được, mà tôi phải cầu xin Đức Chúa Trời thương xót.

Trong ẩn dụ nầy, Chúa Jêsus tuyên bố Tin lành là lẽ thật! Mọi người dù là đàn ông hay đàn bà, là nam hay nữ trên thế gian nầy thảy đều có thể được xưng công bình nếu họ bằng lòng cầu nguyện với thái độ khiêm nhường hạ mình, ăn năn thống hối xưng nhận tội lỗi mình ra, tương tự như là “Kính lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót tôi, vì tôi là kẻ có tội!” Thái độ của người Pharisi kia hoàn toàn trái ngược với thái độ của một người cầu nguyện khiêm nhường. Ăn năn hối cải và xưng nhận tội lỗi mình là những yếu tố sẽ đưa chúng ta vào trong vương quốc ân điển.

Có một học giả tin kính nọ cho rằng Xachê kẻ làm đầu bọn thâu thuế là người chúng ta sẽ gặp trong chương kế tiếp, cũng chính là người thâu thuế trong ẩn dụ nầy. Căn cứ vào việc Chúa Jêsus đã gọi đích danh ông ta, cho thấy Ngài và ông ta có quen biết nhau từ trước. Qua đó, chúng ta cũng thấy được rằng Chúa Jêsus đi đến thành Giêricô để “theo dõi” người cầu nguyện tên là Xachê là người ra sao – đặng giải thích cho ông ta biết thế nào là sự ăn năn thật và cần phải bày tỏ sự ăn năn đó ra sao trên đời sống mình. Điều nầy rõ ràng có liên quan đến việc ông phải phân phát tiền bạc của mình ra, là số tiền ông đã kiếm được một cách bất chính trước đó. Khả năng phỏng đoán cho sự việc nầy là rất lớn, dầu vậy, nó vẫn đem lại cho chúng ta sự thích thú về một trong những câu chuyện tuyệt vời của Tân ước.

Chúa Jêsus Và Người Thâu Thuế (Luca 19: 1-10)

Khi đọc tới Luca 18 và 19, chúng ta khám phá ra thêm hai câu chuyện nữa nói về những người giàu có. Chúng ta cũng có thể thấy sự gặp gỡ của Chúa Jêsus với người trưởng phòng thuế vụ nầy giống như một vở kịch ba màn vậy. Màn thứ nhất là khung cảnh nơi Chúa Jêsus nhìn thấy và hỏi han Xachê. Màn kịch thứ hai xảy ra tại nhà Xachê, nơi Chúa Jêsus trải qua cả ngày trò chuyện và trao đổi với người đàn ông nầy là người mà dân thành Giêricô chẳng ai ưa.

Khi bức màn sân khấu được kéo lên tiếp tục diễn đến màn ba của vở kịch, Chúa Jêsus và Xachê đang ra khỏi nhà ông ta, sau đó Ngài cùng ông ở bên nhau trọn cả ngày hôm đó. Ông gọi Ngài là “Chúa” và tuyên bố sẽ đi phân phát một nửa số tiền bạc của mình cho người nghèo, ông cũng dùng nửa số tiền còn lại để bồi thường – đền 400 % cho những ai trong thành Giêricô đã từng bị ông làm thiệt hại. (Giả sử ông không bồi hoàn cho ai hết, thì ông sẽ không phải tốn nửa gia tài còn lại của mình để giải quyết vấn đề ấy).

Màn hai là màn kịch quan trọng nhất của “vở kịch” nầy. Chúng ta không biết được những gì đã diễn ra ở màn kịch thứ hai, hoặc những gì đã xảy ra tại nhà Xachê. Thế họ đã nói về những gì suốt cả ngày ở đó vậy? Chắc họ đã thảo luận với nhau vấn đề ăn năn nghĩa  là  thế  nào,  để  được  tha  thứ  va  bước  theo  Chúa  Jêsus.  Nội dung của cuộc thảo luận chắc hẳn có liên quan đến chuyện tiền bạc, bởi vì đó là thứ mà Xachê khi mở lời thì đã đề cập đến nó trước tiên. Lúc Chúa Jêsus nghe những lời ấy được nói ra từ một kẻ tội lỗi xấu xa nhất của thành Giêricô, thì Ngài liền tuyên bố người nầy là con cháu Ápraham và rằng sự cứu rỗi đã vào nhà người ngay ngày hôm đó.

Chi tiết tôi lấy làm tâm đắc nhất trong câu chuyện nầy, ấy là khi Chúa Jêsus đi đến thành Giêricô thì Ngài đã dành trọn một ngày ở đó với một kẻ hèn hạ chuyên đi lừa gạt nầy, và thiên hạ đang bàn tán với nhau về chuyện ấy. Tôi rất thích thú khi đặt cho một họa sĩ nọ vẽ bức tranh về Chúa Jêsus mà theo nhà sử học Do Thái Josephus thì đó là hình ảnh một Đấng vĩ đại đang bước vào nhà dang rộng vòng tay ôm choàng lấy Xachê một người nhỏ thó thấp bé, trong khi tất ca những kẻ tự cho mình là công bình đứng quanh đó bàn tán xôn xao vì cớ gì ma Chúa Jêsus chỉ có một ngày duy nhất ở thành Giêricô, nhưng lại dành trọn cho kẻ làm đầu bọn thâu thuế nầy.

Câu chuyện được kết thúc với một lời đẹp đẽ khắc trên tấm bản nhỏ bằng đồng thau đính vào bên dưới cạnh khung của bức tranh: “Bởi Con Người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất!” Đây là một trong những lời tuyên bố rất rõ ràng của Phúc âm thứ ba nầy, là lời đem lại cho chúng ta một sứ mạng hết sức ngắn gọn, đầy đủ và súc tích về sự quan trọng nhất đối với đời người sống trên đất nầy (19:10).

Chúng ta cũng thấy được chiến lược của Chúa Jêsus trong lần gặp gỡ nầy. Ngài chỉ đi ngang qua thành Giêricô, và mục đích của Ngài rõ ràng là để đến với một người có thể gây nên một ảnh hưởng mạnh mẽ tới dân chúng thành Giêricô sau khi Ngài đã rời xa khỏi đó.

Hãy tưởng tượng sự ảnh hưởng nầy sẽ lan rộng ra khắp cả thành Giêricô, khi Xachê bắt đầu mời những người mà ông đã từng thu thuế quá mức ở đó lại, cộng thêm với uy lực mà những người thu thuế thường có. Thử hình dung ra khung cảnh mọi người lấy làm ngạc nhiên, vui mừng xen lẫn sợ hãi khi nghĩ rằng hầu bao của họ lại sắp sửa phải lưng thêm, thế rồi họ mới vỡ lẽ ra Xachê mời họ đến là để trả lại cho họ gấp bốn lần những gì mà ông đã từng lấy của họ trước đó, chỉ vì cớ ông đã gặp được Chúa Jêsus! Theo tôi thì đây là sự kiện vĩ đại nhất đã xảy ra tại thành Giêricô kể từ khi những bức tường của thành phố nầy bị sụp đổ trong thời Giôsuê.

Gặp Gỡ Mot Người Giàu Khác (Luca 18:18-27)

Có một câu chuyện khác kể về một người giàu có nọ trong chương trước được nối tiếp với câu chuyện Chúa Jêsus và Xachê vừa rồi. Khi đem so sánh và đặc biệt la  khi  bạn  đem  đối  chiếu  hai  người giàu nầy với nhau, thì trước hết bạn sẽ thấy họ có những điểm chung như sau:

Cả hai đều giàu có. Cả hai đều là người Do Thái. Cả hai đều khao khát gặp Chúa Jêsus. Xachê trèo lên một cái cây, người giàu kia là một viên quan trẻ tuổi đã chạy đến với Chúa Jêsus và quỳ xuống trước Ngài. Cả hai đều đến với Chúa một cách công khai. Rõ ràng cả hai đều quan tâm đến việc muốn biết phải làm thể nào để được cứu, và cần làm sao để có sự sống đời đời. Hiển nhiên là Chúa Jêsus rất đỗi yêu thương cả hai người nầy. Chúa bảo họ hãy ăn năn tội lỗi mình và phải bày tỏ sự ăn năn đó ra bằng cách phân phát tiền bạc của mình ra cho người khác.

Nhưng khi đem đối chiếu với nhau, bạn sẽ thấy họ có những điều khác biệt đến kinh ngạc: người giàu trẻ tuổi là một người đạo đức và sùng đạo, trong khi Xachê lại là người ngược lại. Người giàu trẻ tuổi luôn được dân chúng ngưỡng mộ và kính trọng, trong khi đó chúng ta biết rõ rằng đối với Xachê thì không hề được như vậy.

Sự khác biệt quan trọng nhất giữa hai người nầy là Xachê đã hết lòng ăn năn hối cải tội lỗi mình và đi phân phát tiền bạc của mình ra cho người khác, trong khi người giàu đạo đức và sùng đạo kia thì không ăn năn chút nào. Cho dù anh ta sống thanh liêm chính trực, có đạo đức và ngoan đạo đến cỡ nào chăng nữa thì anh ta vẫn không được cứu, còn Xachê lại được cứu đấy! Trừ phi về sau người giàu trẻ tuổi nầy có chịu ăn năn hay không, chúng ta có thể giả định rằng anh ta đã chết đi với đời sống của con người đạo đức nhưng đó cũng chỉ là một kẻ hư mất mà thôi. Điều đó có nghĩa là ngay cả Xachê, một người xấu xa chẳng ra gì, từng sống một đời sống vô đạo trước khi gặp Chúa Jêsus, thì hiện nay, ông lại đang ở trên thiên đàng, còn viên quan trẻ tuổi giàu có kia thì lại đang ở trong địa ngục!

Chúng ta không được hiểu sai nội dung câu chuyện nầy. Chúa Jêsus không bảo chúng ta sẽ được cứu nhờ vào những việc chúng ta làm hoặc bởi những gì chúng ta thôi không làm nữa. Ngài dạy rằng, nếu chúng ta ăn năn và từ bỏ tội lỗi mình thì chúng ta mới được cứu rỗi thực sự. Chúng ta đã nhìn thấy hai hình ảnh tương phản được minh họa sống động của hai con người trên về cái cách họ đã đáp lại Chúa Jêsus ra sao.

Câu chuyện của Chúa Jêsus và Xachê thực sự đã được bắt đầu với ẩn dụ về người Pharisi và kẻ thâu thuế. Khi chúng ta tiếp tục đọc tiếp ẩn dụ nầy, chúng ta sẽ khám phá ra co một câu Kinh thánh phát họa rõ nét hình ảnh Chúa Jêsus quả thật là Đấng Cứu Thế mà chúng ta đang tìm kiếm. Chúng ta sẽ thấy chân dung Chúa Jêsus và bản Tuyên ngôn của Ngài lần cuối cùng khi Luca đưa ra cho chúng ta lời diễn tả của ông về Đại Mạng lịnh ở phần kết của sách Phúc âm nầy (Luca 24: 46-49).

Mục sư Dick Woodward

Nguồn: mbc.icm.org

Sơ lược về chương trình Thánh Kinh Lược Khảo (MBC)

Thánh Kinh Lược Khảo (MBC) là chương trình nghiên cứu toàn bộ Kinh thánh, thêm vào đó là các bài giảng trên núi và các chủ đề về hôn nhân và gia đình. Các bài học nầy được xem như là chương trình giảng dạy cơ bản nhằm chăm sóc đời sống Cơ đốc, và hỗ trợ sự tăng trưởng tâm linh cho hội thánh trên toàn cầu thông qua các mục vụ hợp tác quốc tế (ICM). Mục sư Dick Woodward sáng lập khóa học nầy với phương cách độc đáo làm cho cách sách trong Kinh thánh trở nên sống động mà không bị ngăn trở bởi hệ phái tôn giáo và văn hoá nào. Chương trình nầy cung cấp phương pháp tự học Kinh thánh cách dễ hiểu dành cho mọi đối tượng mà không phụ thuộc vào trình độ văn hoá.

Chương trình giảng dạy Thánh Kinh Lược Khảo bao gồm 4 phần:

Bài học được thu âm: Bao gồm các bài học dễ hiểu, lý tưởng cho các nhóm học hoặc cá nhân . Một vài ngôn ngữ chỉ có các bài học dưới dạng nghe nầy, đặc biệt là những nơi có kỹ năng viết và đọc còn thấp.

Sách hướng dẫn dành cho các nhóm trưởng: Các sách nầy được viết cho các nhóm trưởng khi tham gia học chương trình Thánh Kinh Lược Khảo. Chương đầu tiên của bất kỳ giai đoạn nghiên cứu nào cũng có thông tin mở rộng dành cho các nhóm trưởng, tiếp theo là các câu hỏi dành cho nhóm nhỏ thảo luận. Sách hướng dẫn dành cho nhóm trưởng có những câu trả lời được in đậm.

Sách dành cho sinh viên: Các sách nầy hướng dẫn sinh viên học từng bài trong chương trình Thánh Kinh Lược Khảo. Sách bao gồm phần tóm tắt về bài học và các câu Kinh thánh chính, thêm vào đó là các câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu y như trong sách hướng dẫn dành cho nhóm trưởng (Sách nầy không có phần trả lời).

Sách nghiên cứu: Các sách nghiên cứu được cung cấp như là tài liệu bổ sung về bối cảnh bài học cũng như phần giải nghĩa cho các nhóm trưởng. Các sách nầy không theo trình tự như các bài học dưới dạng âm thanh nhưng nó rất giá trị và nâng cao sự hiểu biết giúp ích cho người học trong quá trình nghiên cứu Kinh thánh. Cách tốt nhất để sử dụng sách nầy là đọc chúng như là phần giải nghĩa cho toàn bộ một chuyên mục (ví dụ: Từ Sáng thế ký đến Xuất Ê-díp-tô ký, các bài giảng về phước lành của Chúa Giê-xu trên núi).

Đọc Kinh thánh trong quá trình học như thế nào? Nhiều người yêu cầu MBC liệt kê các đoạn, câu Kinh thánh để họ đọc trước mỗi bài học. Cách học tại đây không dựa vào từng câu Kinh thánh nhưng sử dụng nguyên cả một sách để làm tài liệu cho mỗi bài học. Tốt nhất là phải đọc hết những sách của Kinh thánh trong một chuyên mục nào đó. Ví dụ: Khi học về Tân Ước từ Công vụ các sứ đồ đến Rô-ma, người học cần phải đọc hết hai sách nầy và nghe toàn bộ các bài học ở dạng âm thanh.

Bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.