Bài Học 48: Mọi Sự Cho Mọi Người
Tân Ước Lược Khảo
Phao-lô đưa ra lời khuyên dạy về các vấn đề khó khăn trong hội thánh và cách áp dụng các nguyên tắc của sự tự do Cơ Đốc cho những vấn đề này: ăn đồ ăn đã cúng cho thần tượng, cách dự phần vào Tiệc Thánh, và cách những người mạnh mẽ phải quan tâm đến những người yếu đuối hơn trong đức tin. Vấn đề ở đây không phải là đúng hoặc sai, mà là điều làm sáng danh Chúa, và điều dẫn đến sự cứu chuộc của người khác, và điều mang đến ích lợi cho người khác. Phao-lô sẽ trình bày tiếp sau rằng những nguyên tắc này phải được áp dụng trong tình yêu thương.
BA NGUYÊN TẮC VỀ VIỆC SỐNG GIỐNG NHƯ ĐẤNG CHRIST
(I Côrinhtô 8-10)
Trong đời sống của Cơ Đốc Nhân, một số vấn đề được xét không phải là đúng mà cũng không phải sai, nhưng thường là liên quan đến những cảm xúc tiêu cực, tùy thuộc vào nền tảng xã hội trong một nền văn hóa riêng biệt. Trong một số nền văn hóa, các vấn đề nầy kể cả việc uống rượu hoặc để tóc theo kiểu nào đó. Trong nền văn hóa Côrinhtô, đó là việc ăn thịt đã cúng cho thần tượng. Bên ngoài Hội thánh, người dân thành Côrinhtô thờ lạy nhiều thần tượng, và cử hành những nghi thức cùng dâng tế lễ vì cớ lợi ích của chính họ, gồm việc dâng tế lễ bằng súc vật va thịt của chúng sau đo được đem bán giá rẻ ở ngoài chợ. Nhiều người mới tin Chúa chắc hẳn đã bị cuốn vào những thông lệ nầy trước khi tin Chúa. Do đó, sau khi đã tin Chúa rồi, họ tranh luận để biết rằng việc ăn thịt đã cúng là đúng hay sai, và nhiều người trong số họ cho là sai, vì ăn thịt đó cũng giống như thờ lạy thần tượng.
Những người khác trong Hội thánh, thường là những người đã được học nhiều hoặc la Cơ Đốc Nhân lâu năm, thì không thấy co gì sai trong việc nầy. Trong mắt họ, thần tượng không hơn gì vàng, bạc, gỗ, và đá, và chúng không có giá trị gì cả trong lãnh vực thuộc linh. Trạng thái tâm lý nầy có được là nhờ Phaolô đã nói: “Chúng ta biết thần tượng trong thế gian thật là hư không, chỉ có một Đức Chúa Trời, chớ không có thần nào khác”(8:4). Phaolô cho những thần tượng dù bằng vàng hoặc bạc cũng chẳng có giá trị gì vì thế ông đồng ý với những tín hữu đã trưởng thành là, ăn thịt cúng không phải là một sự phản ánh tiêu cực đến đức tin của người đó.
Phaolô nói: “Nhưng chẳng phải moi người đeu có sư hay biết đó” (c.7). Theo một khía cạnh, Phaolô nói mọi người không phải đều có sự khôn ngoan giống như bạn có. Phaolô viết ba chương nầy để nói đến điều mà một người trong Hội thánh có sự hiểu biết về sự vô ích của thần tượng phải làm, khi họ đối đầu với người anh em không có được sự hiểu biết như vậy. Phaolô chuyển đổi vấn đề từ việc ăn thịt cúng đến mối quan hệ giữa anh chị em trong Đấng Christ và cách mà những người mạnh mẽ hơn phải quan tâm đến những người yếu đức tin hơn mình. Để đối phó lại với sự chống đối đó, họ có quyền tự do ăn bất ky loại thịt nào ma Thánh Linh cho quyền ho được ăn, Phaolo khuyên các tín hữu cách mạnh mẽ hơn: “Nhưng hãy giữ lấy, kẻo sự tự do mình lam dịp cho ke yếu đuối vấp phạm… Cho nên, neu đo ăn xui anh em tôi vấp phạm, thì tôi sẽ chẳng hề ăn thịt, hầu cho khỏi làm dịp vấp phạm cho anh em tôi” (c.9,13).
Phaolô biết rằng giải pháp nầy sẽ tạo nên mối quan tâm giữa những tín hữu mạnh mẽ hơn. Ông chuyên hướng về quyền tự do thuộc linh, nên ông ghét bất kỳ hình thức tuân thủ luật pháp tuyệt đối nào. Ông không thích người ta thay đổi lời dạy của ông thành ra sách hướng dẫn các quy tắc phải làm va không được làm trong đời sống các Cơ Đốc Nhân. Ông biết nhiều tín hữu mạnh mẽ sẽ dùng giải pháp của ông như một số hình thức tuân thủ luật pháp tuyệt đối. Họ sẽ đáp ứng giải pháp của ông bằng cách nói: “Tại sao quyền tự do thuộc linh của tôi lại phải bị giới hạn bởi những anh em yếu đuối hơn?” Phaolô viết ba chương nầy để dạy những người Côrinhtô (và tôi với bạn nữa), tại sao việc nầy là quan trọng đối với chúng ta là những người quan tâm đến nhu cầu của những anh chị em yếu đuối, khi chúng ta quyết định sử dụng quyền tự do làm điều mà chúng ta có thể gọi là “những vấn đề kinh nghiệm” của đời sống giống như Đấng Christ.
Tóm Tắt Ba Nguyên Tắc Tự Do Như Đấng Christ
Chúng ta tìm thấy lời dạy của Phaolô được tóm tắt trong phần nầy qua những lời cuối cùng: “Vậy anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm. Đừng làm gương xấu cho người Giuđa, người Gờréc, hay là Hội thánh của Đức Chúa Trời. Hãy như tôi gắng sức đẹp lòng mọi người trong mọi việc, chẳng tìm ích lợi riêng cho mình, nhưng cho phần nhiều người, để họ được cứu”(10:31-33). Từ những câu nầy, chúng ta tìm thấy được ba nguyên tắc. Trước nhất, chúng ta nhận biết rằng sự quan tâm ưu tiên của chúng ta phải là vì vinh hiển Đức Chúa Trời. Thứ hai, những việc làm của chúng ta phải dựa trên căn bản là đem lại kết quả để cứu nhiều người. Và thứ ba, lợi ích của người khác quan trọng hơn lợi ích của chính mình. Vấn đề không phải là điều nầy đúng hay sai, hoặc chúng ta phải làm hay không nên làm một điều nào đó, mà vấn đề là điều gì làm vinh hiển danh Đức Chúa Trời, đưa người khác đến sự cứu rỗi, và là ích lợi cho họ. Khi bạn suy nghĩ về ba nguyên tắc nầy, bạn nhận ra rằng họ diễn đạt một khái niệm Phaolô sẽ giải thích rõ ràng sau cho chúng ta trong thư bằng cách nầy: Y-Ê-U-T-H-Ư-Ơ-N- G, tình yêu Agape của Đức Chúa Trời.
Thế gian thì không ủng hộ trạng thái tâm lý như thế. Gía trị của nền văn hóa thế gian nầy thì diễn đạt trong lời tuyên bố minh định giá trị quen thuộc: “Luật pháp đầu tiên của nền văn minh là tự bảo vệ”. Con người ở thế gian nầy dựa vào hành động của họ cho dù điều đó sẽ có ảnh hưởng trên họ cách tích cực hay tiêu cực. Họ hỏi: “Tôi sẽ rút ra được điều gì từ việc nầy?” Nhưng triết lý sống của Đấng Christ, được Phaolô dạy ở đây, là sự ban cho – ban cho về phần Đức Chúa Trời, là Ngài giành được sự vinh hiển, và về phần người khác thì họ được cứu và được soi sáng. Sự cứu rỗi khiến chúng ta thành những nô lệ đã kết ước của Đấng Christ. Chúng ta không còn tự do để làm điều chúng ta muốn. Chúng ta bị buộc phải làm, như Đấng Christ muốn chúng ta làm, vì quan tâm đến sự cứu rỗi và dẫn đưa người khác đến với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Ap Dụng Ba Nguyên Tắc Sống Giống Như Đấng Christ
Trong chương 9, Phaolô giải thích cách ông áp dụng ba nguyên tắc nầy vào trong đời sống của ông. Để bắt đầu, ông bênh vực quyền tự do của mình: “Tôi chẳng được tự do sao?… Chúng tôi há không có phép ăn uong sao? Ha không co phép dắt mot người chị em làm vơ đi khắp nơi với chúng tôi như các sứ đồ khác cùng các anh em Chúa và Sêpha đã làm, hay sao?… Nếu chúng tôi đã gieo của thiêng liêng cho anh em, mà muốn thâu lại của vật chất của anh em, thì nào có phải một việc quá lẽ đâu? Người khác còn có quyền ấy trên anh em, huống chi là chúng tôi?” (c.1,4-5,11-12). Ở đây, Phaolô giải thích quyền của ông được ăn uống, được lấy vợ và nhận của cải vật chất từ chức vụ của ông, những việc ông đã phục vụ người khác.
Mọi Việc Cho Mọi Người
Vì sứ đồ ở dưới luật pháp tự do, nên Phaolô được tự do làm bất kỳ việc gì miễn là không mâu thuẫn với lời dạy của Đấng Christ, nhưng ông đã không làm như vậy. Thay vì thế, ông dạy người Côrinhtô: “Dầu vậy, chúng tôi chẳng từng dung quyền ấy; nhưng chung tôi chịu mọi sự, hầu cho khỏi làm ngăn trở Tin lành của Đấng Christ chút nào… Phần tôi thì chẳng từng dùng quyền ấy chút nào” (c.12,15). Mặc dù ông được tự do để làm vì lợi ích chính mình, nhưng ông đã không chọn cách đó vì sợ rằng nó sẽ che khuất đi Tin lành mà ông rao giảng. Làm như vậy, ông đã không ích kỷ đặt những mong ước cá nhân lên trên vinh hiển của Chúa và sự cứu rỗi người khác.
Đỉnh điểm trong sứ điệp của Phaolô nằm trong phân đoạn theo sau: “Vả, tôi đối với ai vẫn cũng là được tự do, mà tôi đành phục mọi người, hau cho tôi đươc nhiều người hơn. Vơi người Giuđa, tôi ơ như một người Giuđa, hau được những người Giuđa; vơi những người dươi quyền luật pháp, (dầu chính tôi chẳng ở dưới quyền luật pháp), tôi cũng ở như kẻ dưới quyền luật pháp; với những người không luật phap, (dầu đối với Đưc Chua Trời toi không phải la không luật phap, vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ), song tôi cũng ở như người không luật pháp, hầu được những người không luật pháp. Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối, hầu được những người yếu đuối; tôi đã trơ nên mọi cách cho moi người, đe cứu chuộc một vài người không cứ cách nào. Mọi điều tôi làm, thì làm vì cớ Tin lành, hầu cho tôi cũng có phần trong đó” (19-23).
Mặc dù Phaolô là người tự do, nghĩa là ông được sanh ra tự do và không làm nô lệ cho bất kỳ người nào, nhưng ông đã cân nhắc chọn lựa cách trở nên nô lệ cho mọi người vì lợi ích của Tin lành. Ông quyết tâm phục vụ họ bằng mọi cách có thể, để giành được cơ hội đem Tin lành cứu rỗi đến cho họ. Nếu người đó là Dothái, ông sẽ điều chỉnh hành động của ông để làm cho Tin lành được rõ ràng và thu hút đối với người Dothái. Nếu gặp người ít học, Phaolô sẽ nói Tin lành với người đó cách đơn sơ, dễ hiểu.
Mặc dù có nhiều giới hạn không cần thiết, nhưng nếu là một người không có luật pháp, ông sẽ làm mọi điều có thể làm được để Tin lành được sáng tỏ và lôi cuốn họ. Mặc dù Phaolô sẽ không thỏa hiệp với những người chối bỏ điều ông tin, ông cũng vẫn muốn dùng quyền tự do trong Đấng Christ để làm cho mọi người có thể hiểu được Tin lành trong mọi chặng đường đời khác nhau của họ.
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của Phaolô là thực hiện quyền tự do trong Đấng Christ và đẩy lùi mọi hình thức tuân theo luật pháp cách cứng ngắt, tuy nhiên, ông cũng quan tâm nhiều đến những anh em yếu đuối hơn và sự hiệp một thân thể của Đấng Christ. Để phù hợp với sự quan tâm đó, ông tránh những thông lệ có thể là nguyên nhân gây cho anh em yếu đuối bị vấp phạm.
Để áp dụng, dù trong Đấng Christ chúng ta được tự do để làm mọi điều, nhưng chúng ta phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình ảnh hưởng trên người khác, đặc biệt là những người cùng là thành viên trong thân thể Đấng Christ. Do đó, nếu chúng ta làm điều gì không xâm phạm đến sự thiêng liêng của Đức Chúa Trời hoặc mối quan hệ của chúng ta với Đấng Christ, nhưng lại gây cho anh chị em nào đó bị vấp phạm, thì chúng ta không nên làm điều đó khi có mặt họ. Nguyên tắc Phaolô đang dạy la không áp dụng bằng cách loại trừ những anh chị em yếu đuối ra hoặc bảo họ tìm cách khác. Việc áp dụng nguyên tắc nầy được tìm thấy qua sự quan tâm và yêu thương của chúng ta đến các anh chị em trong Đấng Christ và trong sự hiệp một của thân thể Ngài.
Hiểu Biết Vai Trò Của Ngươi Nư Trong Hội Thánh
Trong I Côrinhtô chương 11, Phaolô bàn đến vai trò của người nữ và Tiệc Thánh. Ông dạy người nữ nên trùm đầu và để tóc dài. Phaolô viết: “Nếu đàn bà để tóc dài thì là lịch sự cho mình” (c.15). Trong nền văn hóa Côrinhtô, phụ nữ tóc ngắn hoặc cạo đầu thì bị cho là gái điếm và là người đàn bà có hành tung đáng ngờ. Do đó, để dành riêng cho người nữ Cơ đốc nhân, Phaolô dạy họ nên trùm đầu và để tóc dài.
Đây là lời dạy dựa trên nền văn hóa, tuy nhiên, nguyên tắc của nó được lấy ra từ những văn hóa vẫn còn áp dụng mà thôi. Nếu như trong nền văn hóa đó chúng ta nhận dạng tuýp người nào đó qua cách ăn mặc hoặc mái tóc, thì chúng ta nên tránh ăn mặc hoặc để tóc theo những kiểu nầy. Chúng ta không nên tạo sự chú ý giữa anh em khi chúng ta xuất hiện, và chúng ta không nên để cho người ngoài đánh đồng nữ Cơ đốc nhân với gái điếm. Nếu văn hóa không liên đới đến việc để tóc ngắn với gái điếm, thì cũng không thể nói rằng người nữ Cơ đốc nhân để tóc ngắn là sai.
Khi tôi nhìn tổng quát thư nầy, lời dạy của Phaolô về người nữ nên trùm đầu khi cầu nguyện hoặc nói tiên tri, không có nghĩa là người nữ nên đội mũ khi đến Hội thánh. Điều nầy liên quan đến phong tục, vẫn còn thực tiễn với văn hóa Trung đông, là người phụ nữ nên che mạng chỗ đông người. Lời dạy quan trọng nầy của Phaolô bày tỏ rằng, dù chúng ta được dạy qua thư của Phaolô viết cho người Rôma, dù chúng ta không nên rập khuôn theo đời nầy (Rôma 12:2), thì cũng không nên hoàn toàn dửng dưng với văn hóa với nơi chúng ta đang sống. Khi các nữ giáo sĩ sống trong nền văn hóa Trung đông ngày nay, họ được huấn luyện để không dửng dưng với một số yếu tố đã được nói đến trong nền văn hóa đó.
Sự kiện Phaolô thừa nhận người phụ nữ được phép cầu nguyện và nói tiên tri khi Hội thánh nhóm họp, cho thấy vai trò người nữ trong việc phục vụ ở Hội thánh gồm có giảng dạy và cầu nguyện. Bài học sâu sắc về vai trò người phụ nữ trong Hội thánh có thể đưa chúng ta đến kết luận nầy: Người nữ có thể làm bất cứ việc gì trong Hội thánh miễn là mọi điều cô ấy làm đều ở dưới quyền của các trưởng lão của Hội thánh đó. Dựa vào đây, mọi người trong Hội thánh ở dưới quyền của các trưởng lão, và các trưởng lão ở dưới quyền của Đấng Christ phục sinh, hằng sống và Lời của Đức Chúa Trời.
Thái Độ Xứng Đáng Để Dự Tiệc Thánh
Khi Phaolô đưa ra những lời được thần cảm để sửa sai những hành động không tốt của người Côrinhtô mà ông nhìn thấy trong khi dự Tiệc Thánh, ông dạy các tín hữu Côrinhtô nên quan tâm đến nhau và dọn lòng mình trước khi dự tiệc nầy. Ông đã nghe họ dự lễ Tiệc Thánh cách không xứng đáng về hai việc: Không nghĩ đến anh chị em trong Đấng Christ và không dự Tiệc Thánh với thái độ xứng đáng “Bởi vì lúc ngồi ăn, ai cũng nôn nả mà ăn bữa riêng mình, đến nỗi người no chịu đói, còn ke kia thì qua độ” (c.21).
Đó là một thực trạng trong thế hệ Hội thánh đầu tiên để chia sẻ điều họ gọi là “bữa ăn thân ái”, trước lúc vào dự Tiệc Thánh. Qua những điều Phaolô viết ở đây, có vẻ như là họ đã không đặt thức ăn mình mang đến vào bàn tiệc chung. Hình như mỗi người sẽ ăn các món mà mình đem theo. Một số người giàu đem nhiều thức ăn, còn những người nghèo (có thể là những nô lệ) thì không có gì để đem đến cả. Những người sung túc thì ăn trước những người không có gì. Một tín hữu ăn nhiều thức ăn xa xỉ trước những tín hữu bị đói và không có gì để ăn. Một số tín hữu bị Phaolô làm cho “cụt hứng” trong bữa ăn tối ơ Hội thánh khi ông hỏi: “Anh em ha chẳng co nha đe ăn uống sao?” (c.22). Họ dự bữa tiệc thân ái mà chẳng hề quan tâm gì đến anh em cùng đức tin với mình. Chúng ta cũng thấy rằng một số người trong các tín hữu dự Tiệc Thánh với sự thỏa mãn cơn thèm rượu. Thật ra họ được dùng rượu để làm cho mình say sưa. Chúng ta bị sốc khi đọc đến những sự lạm dụng nầy vì chúng ta so sánh văn hóa của Hội thánh chúng ta với văn hóa của “Hội thánh đầu tiên Côrinhtô”. Chúng ta phải nhớ rằng những người nầy chính là những thành viên đầu tiên của Hội thánh đầu tiên trong nền đạo đức suy đồi của thành phố Côrinhtô. Những người trong chúng ta là bậc cha mẹ về mặt thuộc thể và thuộc linh đều biết rằng con trẻ thì hay quậy phá, nên Phaolô gán cho những người Côrinhtô như là con trẻ (I Côrinhtô 3:1).
Những sự lạm dụng nầy được hiểu như là điều gớm ghiếc đối với Phaolô. Ý nghĩa cốt lõi của Tiệc Thánh là để nhớ đến sự chết và phục sinh của Đấng Christ và hai sự kiện nầy của Tin lành sẽ có ý nghĩa lớn đối với các tín hữu là những người đã gặp Chúa và gặp nhau tại bàn tiệc đó. Phaolô quở trách Hội thánh Côrinhtô khi ông viết: “Bởi đó ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng, thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chua. Vậy moi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy” (c.27-28).
Trong một số bản dịch, phân đoạn nầy cảnh báo người Côrinhtô không nên dự Tiệc thánh cách không xứng đáng. Đây là một bản dịch không hợp lẽ vì nó làm cho tín hữu cảm thấy họ phải thật xứng đáng khi dự Tiệc Thánh. Khi phạm tội, họ cố ý vắng mặt không dự tiệc thánh ngay chính lúc mà họ cần phải dự tịêc thánh hơn hết. Những bản dịch có hiệu chỉnh giải thích lời dạy Phaolô cách chính xác. Ông dạy người Côrinhtô (và tôi với bạn), là chúng ta cần dự Tiệc Thánh với một thái độ xứng đáng. Bàn tiệc nầy nói về sự không xứng đáng của chúng ta và sự rất cao trọng của Ngài là Đấng cứu rỗi và chịu khổ thay cho chúng ta.
Tóm lại, Phaolô dạy họ làm lễ Tiệc Thánh là dịp để suy xét tấm lòng trước Chúa, chứ không phải là dịp để nhồi nhét những thức ăn ngon lành của riêng mình, trong khi những anh em cùng đức tin với họ thì đang đói, rồi say sưa bằng rượu của bàn Tiệc Thánh. Phaolô cũng cho biết đó là dịp họ chia sẻ với nhau, khi ông bảo họ: “Hỡi anh em, vậy thì lúc anh em hội lại để ăn chung với nhau, hãy chờ đợi nhau” (c.33). Sự hiệp một của các tín hữu cũng là một lãnh vực quan trọng trong mối thông công. Chờ đợi những anh em chậm trễ hơn để cả thân thể có thể cùng tương thông với nhau là biểu tượng của sự hiệp một trước Đấng Christ hằng sống, Đấng đã chết và sống lại mà từng cá nhân hoặc tập thể chúng ta đang ca tụng (dự lễ kỷ niệm) và áp dụng (chuyên chú vào).
Bạn đã dự tiệc thánh như thế nào? Bạn có dành thì giờ để xét mình trước khi ăn bánh và uống chén tượng trưng cho thân Ngài bị vỡ ra và huyết Ngài đã đổ ra vì lợi ích của bạn không? Bạn có nhận biết tầm quan trọng của thân và huyết Đấng Christ khi bạn tương giao theo chiều dọc và chiều ngang với Đấng Christ và với những anh em cùng đức tin với mình? Suy gẫm về phân đoạn quan trọng nầy và dành thì giờ để có một từng trải thiêng liêng và trong sạch khi dự Tiệc Thánh, ứng dụng cách cá nhân và tập thể thực chất ý nghĩa của lễ Tiệc Thánh, trong sự tôn kính va tưởng nhơ sư hy sinh va sự sống lại của Ngài.
Mục sư Dick Woodward
Nguồn: mbc.icm.org
Sơ lược về chương trình Thánh Kinh Lược Khảo (MBC)
Thánh Kinh Lược Khảo (MBC) là chương trình nghiên cứu toàn bộ Kinh thánh, thêm vào đó là các bài giảng trên núi và các chủ đề về hôn nhân và gia đình. Các bài học nầy được xem như là chương trình giảng dạy cơ bản nhằm chăm sóc đời sống Cơ đốc, và hỗ trợ sự tăng trưởng tâm linh cho hội thánh trên toàn cầu thông qua các mục vụ hợp tác quốc tế (ICM). Mục sư Dick Woodward sáng lập khóa học nầy với phương cách độc đáo làm cho cách sách trong Kinh thánh trở nên sống động mà không bị ngăn trở bởi hệ phái tôn giáo và văn hoá nào. Chương trình nầy cung cấp phương pháp tự học Kinh thánh cách dễ hiểu dành cho mọi đối tượng mà không phụ thuộc vào trình độ văn hoá.
Chương trình giảng dạy Thánh Kinh Lược Khảo bao gồm 4 phần:
Bài học được thu âm: Bao gồm các bài học dễ hiểu, lý tưởng cho các nhóm học hoặc cá nhân . Một vài ngôn ngữ chỉ có các bài học dưới dạng nghe nầy, đặc biệt là những nơi có kỹ năng viết và đọc còn thấp.
Sách hướng dẫn dành cho các nhóm trưởng: Các sách nầy được viết cho các nhóm trưởng khi tham gia học chương trình Thánh Kinh Lược Khảo. Chương đầu tiên của bất kỳ giai đoạn nghiên cứu nào cũng có thông tin mở rộng dành cho các nhóm trưởng, tiếp theo là các câu hỏi dành cho nhóm nhỏ thảo luận. Sách hướng dẫn dành cho nhóm trưởng có những câu trả lời được in đậm.
Sách dành cho sinh viên: Các sách nầy hướng dẫn sinh viên học từng bài trong chương trình Thánh Kinh Lược Khảo. Sách bao gồm phần tóm tắt về bài học và các câu Kinh thánh chính, thêm vào đó là các câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu y như trong sách hướng dẫn dành cho nhóm trưởng (Sách nầy không có phần trả lời).
Sách nghiên cứu: Các sách nghiên cứu được cung cấp như là tài liệu bổ sung về bối cảnh bài học cũng như phần giải nghĩa cho các nhóm trưởng. Các sách nầy không theo trình tự như các bài học dưới dạng âm thanh nhưng nó rất giá trị và nâng cao sự hiểu biết giúp ích cho người học trong quá trình nghiên cứu Kinh thánh. Cách tốt nhất để sử dụng sách nầy là đọc chúng như là phần giải nghĩa cho toàn bộ một chuyên mục (ví dụ: Từ Sáng thế ký đến Xuất Ê-díp-tô ký, các bài giảng về phước lành của Chúa Giê-xu trên núi).
Đọc Kinh thánh trong quá trình học như thế nào? Nhiều người yêu cầu MBC liệt kê các đoạn, câu Kinh thánh để họ đọc trước mỗi bài học. Cách học tại đây không dựa vào từng câu Kinh thánh nhưng sử dụng nguyên cả một sách để làm tài liệu cho mỗi bài học. Tốt nhất là phải đọc hết những sách của Kinh thánh trong một chuyên mục nào đó. Ví dụ: Khi học về Tân Ước từ Công vụ các sứ đồ đến Rô-ma, người học cần phải đọc hết hai sách nầy và nghe toàn bộ các bài học ở dạng âm thanh.

