Bài Học 47: Cẩm Nang Hôn Nhân
Tân Ước Lược Khảo
1Cô-rinh-tô 7 được xem như là chương dạy về hôn nhân của Kinh Thánh. Nó đặt ra một số câu hỏi liên quan đến hôn nhân, độc thân, ly dị, tái hôn, và mối quan hệ thể xác trong hôn nhân. Ở đây, chúng ta khám phá kế hoạch của Chúa cho hôn nhân và nhiều hoàn cảnh tạo ra nan đề. Khi hai tín hữu kết hiệp với nhau trong hôn nhân, họ kết ước cuộc đời họ cho nhau vì họ tin rằng Chúa đã kết hiệp họ với nhau và phải dựa vào ân điển của Chúa để sống với nhau.
SÁCH DẠY VỀ HÔN NHÂN (I Côrinhtô 7)
I Côrinhto 7 được xem như la “chương ve hôn nhân của Kinh Thánh”. Chương nầy đưa ra một số câu hỏi mà người Côrinhtô đặt ra cho Phaolô trong thư họ đã viết cho ông liên quan đến hôn nhân, sống độc thân, ly dị, tái hôn va mối quan hệ thể xác trong hôn nhân. Trong nhiều thế kỷ qua, sách nầy trở thành sách dạy về hôn nhân của các mục sư khi các tín hữu trong Hội thánh đến hỏi họ về những lãnh vực nầy trong hôn nhân. Vấn đề chủ yếu tập trung trong chương nầy là: “Hôn nhân là gì trong cái nhìn của Đức Chúa Trời?” Tất cả mọi câu hỏi đều được đưa ra trong I Côrinhtô 7, nơi chúng ta khám phá ra kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân và hầu hết các trường hợp nan giải đều phát sinh từ mối quan hệ vợ chồng.
Một số người luận rằng phần nầy không được cảm thúc vì Phaolô đôi khi nói ra bởi năng quyền của Chúa mà cũng có lúc do ý kiến riêng của mình về một vài vấn đề nào đó. Ví dụ như, Phaolô xác nhận rằng lời dạy của ông la đến từ Chúa khi ông bảo họ: “Về những kẻ đã cưới gả rồi, thì tôi, nhưng chẳng phải tôi, bèn là Chúa, truyền rằng vợ không nên lìa bỏ chồng” (c.10). Tuy nhiên, ở chỗ khác, ông cho biết rõ lời dạy của ông không đến từ Chúa mà là do ý kiến của ông: “Đến như những kẻ khác, chẳng phải Chúa, song là chính tôi bảo họ rằng: Nếu người anh em nào có vợ ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì không nên để bỏ… Về những kẻ đồng thân, tôi chẳng có lời Chúa truyền; song nhờ ơn thương xót của Chúa, tôi được làm người đáng tin, nên tôi ban lời khuyên bảo… Nhưng theo ý tôi, nếu cứ ở vậy, thì có phước hơn. Vả tôi tưởng tôi cũng có Thánh Linh của Đức Chúa Trời” (c.12,25,40). Mặc dù Phaolô đưa ra ý kiến của “con người” trong những câu nầy, nhưng chúng ta không nên cho rằng đây không phải là những lời được cảm thúc hoặc đến từ Chúa. Trong chương nầy, Phaolô đã rất thận trọng để dựa trên lời dạy của Đấng Christ. Những câu hỏi về hôn nhân nầy được trả lời trong lời dạy của Đức Chúa Giêxu và trong luật pháp của Đức Chúa Trời, Phaolô chỉ đưa ra và xác định những gì Chúa đã dạy mà thôi. Tuy nhiên, chỗ nào Chúa Giêxu hoặc luật pháp yên lặng, thì ông nói như một con người “nhờ ơn thương xot của Chua, toi được lam người đáng tin”. Lời cuối cùng trong chương nầy là ông có “Thánh Linh của Đức Chúa Trời” (c.25,40). Không có chỗ nào cho thấy rằng lời dạy của Phaolô về hôn nhân trong chương nầy là không được cảm thúc. Phần cuối chương, ông xác định rằng những gì ông dạy về hôn nhân đều được cảm thúc bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
“Về Cảnh Trạng Khốn Khổ Hiện Tại…”
Từ đầu đến cuối chương nầy, Phaolô nhấn mạnh việc dạy người Côrinhtô không nên lập gia đình hoặc tìm kiếm hoàn cảnh khác hơn điều mà họ đang sống nếu như muốn bước theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Ông dạy họ cách ấy vì điều mà ông gọi là “tai vạ hầu đến”. Hội thánh đang sống trong thời điểm bị bắt bớ, vì cớ đó, ông nghĩ rằng người độc thân cứ nên sống độc thân hơn là làm tăng thêm những nỗi lo cần phải đương đầu trong đời sống hằng ngày.
Hình như, trong thư gởi cho ông, họ hỏi ông là các con của họ nên sống độc thân hay lập gia đình trong hoàn cảnh khó khăn thế nầy. Phaolo nói rành mạch la con gái va con trai còn độc thân của ho sẽ khôn ngoan nếu cứ sống độc thân. Ông không ngăn cấm những người trẻ nầy lập gia đình, nhưng ông dứt khoát khuyến khích họ nên sống độc thân. Bởi điều đó, ông bắt đầu chương nầy bằng lời dạy: “Tôi tưởng rằng đàn ông không nên đụng đến đàn bà là hay hơn” (c.1). Nếu những thanh niên đó quyết định cứ sống độc thân thì ông muốn họ nên giữ mình trước sự cám dỗ về tình dục.
Dù Phaolô khuyên những người trẻ nên sống độc thân, nhưng ông cũng thừa nhận rằng chọn việc lập gia đình không phải là tội: “Song nếu họ chẳng thìn mình được, thì hãy cưới gả; vì thà cưới gả còn hơn để cho lửa tình un đốt”, “Nhưng nếu ngươi lấy vợ, thì chẳng phạm tội gì; và nếu người nữ đồng trinh lấy chồng, thì cũng chẳng phạm tội gì; song những người cưới gả sẽ có sự khó khăn về xác thịt, và tôi muốn cho anh em khỏi sự đó”, “Nếu có ai tưởng chẳng nên cho con gái đồng trinh mình lỡ thì, và phải gả đi, thì người đó có thể tùy ý mà làm, không phạm tội gì; trong cơn đó, người con gái nên lấy chồng” (c.9,28,36). Có một số người suy đoán rằng, trước đây Phaolô đã lập gia đình, vì là một thành viên của phái Pharisi, chắc hẳn ông đã phải lấy vợ. Hơn nữa, trong phần ông đề cập đến những người độc thân hay góa vợ, ông dạy họ là “ở được như tôi” (c.8). Hầu hết các học giả cho rằng ông là người góa vợ.
“Đừng Nên Tước Đoạt Của Người Khác…”
Sự quan hệ thể xác giữa người chồng và người vợ chủ yếu cho việc sinh sản nhưng cũng là sự thuận ý của hai vợ chồng. Phaolô ủng ho y nầy khi ông viết: “Chồng phải làm hết bổn phan đối vơi vơ va vợ đối với chong cung vậy. Vơ khong co quyền tư chu ve than mình, bèn là chồng; chồng cũng vậy, không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là vợ. Đừng từ chối nhau, trừ ra khi hai bên ưng thuận tạm thời, để chuyên việc cầu nguyện; rồi trở lại hiệp cùng nhau, kẻo quỷ satan thừa khi anh em không thìn mình ma cám do chang” (c.3-5).
Một vài câu trước phân đoạn nầy, Phaolô đề cập đến người độc thân khi ông nói: “Tôi tưởng rằng đàn ông không nên đụng đến đàn bà là hay hơn” (c.1), nhưng câu nầy không áp dụng cho người đã lập gia đình. Theo phân đoạn nầy, tình dục nên vì người bạn đời và vì sự vui lòng của cả đôi bên. Người chồng nên làm vợ mình được thỏa lòng, và vợ cũng vậy. Họ không có quyền tước mất sự vui thích được âu yếm của người bạn đời. Định mức trong tình dục không phải là đúng hay sai, bình thường hay bất thường. Từ dùng ở đây có ý nghĩa là sự hỗ tương. Bất cứ điều gì mà hai vợ chồng làm cho nhau thỏa lòng thì không coi là đúng hay sai. Điều quan trọng là có sự hỗ tương lẫn nhau. Phaolô dạy rằng lý do duy nhất để vợ chồng tạm ngưng quan hệ tình dục là để dành thời gian cho việc kiêng ăn cầu nguyện, và điều nầy cũng nên có sự thỏa thuận của cả hai.
Điều nầy không chỉ cho chúng ta thấy giới hạn của việc kiêng cử ve sư thân mật the xác, ma còn la sư chia se trong mối quan he tâm linh giữa hai vợ chồng nữa. Mặc dù họ là vợ chồng và cùng dự phần trong sự hiệp nhất về thuộc thể trước mặt Chúa, họ vẫn có mối quan hệ độc lập cá nhân với Đức Chúa Trời. Mối quan hệ riêng tư cao nhất trong đời sống không phải là quan hệ vợ chồng, mà là mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Người ta muốn tự do bàn luận về mối quan hệ của họ trong hôn nhân hơn là mối tương giao của họ với Đức Chúa Trời.
Phân đoạn nầy cũng dạy chúng ta rằng cách tốt nhất để ngăn chặn sự trái đạo đức về tình dục là cả hai vợ chồng đều làm cho nhau thỏa mãn về quan hệ thể xác trong cuộc sống lứa đôi. Thành phố Côrinhto ơ trong sư đồi bại qua mức, nên Phaolo mong muốn các cặp vợ chồng chống lại sự cám dỗ bằng cách thỏa mãn nhau trong nhu cầu tình dục ở gia đình họ. Chắc chắn việc thỏa mãn lẫn nhau về quan hệ thể xác là điều tốt nhat để bảo vệ chống lại sự cám dỗ về mặt tình dục.
“Đức Chúa Trời Đã Gọi Anh Em Ăn ỞTrong Sự Bình An…”
Ngoài việc sống độc thân và lập gia đình ra, phân đoạn nầy còn đề cập đến vấn đề ly dị. Đương nhiên người Côrinhtô đã hỏi Phaolô hai vợ chồng là tín hữu thì có được phép giải quyết hôn nhân của mình bằng sự ly dị không. Phaolô trả lời câu hỏi của họ trong các câu 10 và 11. Để đơn giản, Phaolô trả lời câu hỏi của họ bằng một từ: “Không!” Ông chỉ cho người Côrinhtô biết lời dạy của Chúa Giêxu ve việc không the chia cắt quan he vơ chồng la điều Chúa Giêxu đưa ra cho người Pharisi, đã được hỗ trợ bằng Luật Pháp Chúa (Mathiơ 19:3-9).
Tuy nhiên, trong các câu 12-16, Phaolô đưa ra một câu hỏi mà Chúa Giêxu không trực tiếp trả lời: “Có được phép ly dị giữa người tin Chúa và người chưa tin không?” Lời khuyên được thần cảm của Phaolô đưa ra trong trường hợp cá biệt nầy rất hợp lẽ: “Nếu người anh em nào có vợ ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì không nên để bỏ. Lại nếu một người đàn bà có chồng ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì vợ cũng không nên lìa chồng”, “Nếu kẻ không tin Chúa muốn phan rẽ, thì cho phân re: Trong cơn đó, người anh em hay người chị em chẳng phải cầm buộc gì. Đức Chúa Trời đã gọi anh em ăn ở trong sự bình an” (c.12-13, 15-16).
Phaolô dạy người Côrinhtô rằng, người vợ hoặc chồng tin Chúa nên cứ sống với người bạn đời ngoại đạo và làm gương về ân điển cùng sự yêu thương của Đức Chúa Trời cho họ để họ có thể được cứu (cũng xem I Phierơ 3:1-6). Nếu cuộc hôn nhân bị tan rã, thì đó phải là do quyết định của người bạn đời không tin Chúa, và nếu người nầy đã nhất quyết rời bỏ, thì người chồng hoặc vợ là tín hữu nên để cho họ ra đi. Khi điều đó xảy ra, thì người anh em hay chị em “chẳng nên cầm buộc gì” (I Côrinhtô 7:15).
Lăng Kính Của Tình Yêu
Nhiều học giả không tán thành về sự chính xác trong từ “cầm buộc” Phaolô nói đến trong câu 15. Một số học giả tin rằng từ nầy có ý là tín hữu được quyền ly dị nhưng không thể tái hôn nếu như người bạn đời ngoại đạo đã ra đi, vì Kinh Thánh không cho phép tái hôn nếu người phối ngẫu đầu tiên vẫn còn sống (Rôma 7:2-3). Những người khác thì tin rằng nó có nghĩa là họ được phép ly dị cũng như tái hôn, vì câu nầy chỉ nói người bạn đời được giải thoát khỏi sự ràng buộc thôi mà không giải thích gì thêm nữa.
Mặc dù các học giả không đồng ý về sự diễn giải trong câu nầy, thì chúng ta cũng phải giải thích câu nầy trong tinh thần yêu thương. Theo Phaolô, Đức Chúa Trời ban cho con người luật pháp vì Ngài muốn con người sống tốt hơn, chứ không muốn con người bị đặt vào sự trói buộc. “Ta phán điều nầy chỉ để giúp đỡ các ngươi, chứ không phải buộc thòng lọng vào cổ các ngươi” (I Côrinhtô 7:35 – Kinh Thánh Giêrusalem). Sự đối lập giữa Chúa Giêxu và phái Pharisi có thể diễn đạt theo cách nầy: “Trước khi Chúa Giêxu áp dụng luật pháp Đức Chúa Trời vào đời sống con người, Ngài đưa luật pháp đó qua lăng kính yêu thương của Đức Chúa Trời. Người Pharisi nhẫn tâm “ném sách luật” vào con người. Do đó, chúng ta nên đưa lời dạy của luật pháp Đức Chúa Trời qua lăng kính yêu thương của Đức Chúa Trời trước khi áp dụng vào đời sống con người.
Ví dụ như, chúng ta có thể tự hỏi một người đã ly dị trước khi tin Chúa thì có nên được phép lập gia đình lại lần nữa hay không, vì Kinh Thánh dạy rằng không được tai hôn trư phi người bạn đời trước kia đã chết. Nếu chúng ta dạy ho như thế, chúng ta sẽ giống như người Pharisi, là người điều khiển luật pháp – là luật để bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho hạnh phúc của con người – và tuân thủ tuyệt đối khiến cho cuộc sống con người trở nên khốn khổ. Người Pharisi đã làm như vậy trong việc liên quan đến ngày Sabát qua lời quở trách Chúa Giêxu chữa lành người bệnh thay vì cứ để tình trạng kéo dài như vậy, trong khi Chúa Giêxu nhìn luật pháp của Đức Chúa Trời qua lăng kính yêu thương của Đức Chúa Trời. Kế đó, Ngài quở trách những người Pharisi: “Vì loài người mà lập ngày Sabát, chớ chẳng phải vì ngày Sabát mà dựng nên loài người” (Mác 2:27).
Vậy thì vì sao Đức Chúa Trời lập nên luật hôn nhân gia đình? Vì Đức Chúa Trời muốn người nam và người nữ mà Ngài tạo nên được hưởng niềm vui phước hạnh trong hôn nhân và làm nên một gia đình. Đức Chúa Trời cũng muốn chúng ta có trách nhiệm trong hôn nhân và gia đình mình. Nhưng chúng ta thường dùng luật hôn nhân nầy để khiến con người không hoàn thành ý định của Đức Chúa Trời khi Ngài ban cho chúng ta luật hôn nhân. Vì vậy, Phaolô nói: “Chữ làm cho chết, song Thánh Linh làm cho sống” (II Côrinhtô 3:6).
Nếu bạn có một bản dịch Tân ước chia phân đoạn nầy ra làm nhiều phần nhỏ, nếu bạn học từng phần nhỏ nầy, bạn có thể xác định câu hỏi mà người Côrinhtô đã hỏi Phaolô và câu trả lời của ông cho họ trong phân đoạn đặc biệt đó. Chúng ta có thể xác định người Côrinhtô đã hỏi Phaolô về vấn đề ly dị và tái hôn của hai tín hữu; cuộc hôn nhân khác đức tin giữa một tin Chúa rồi với người bạn đời chưa tin, do đó, họ bị rơi vào tình trạng lấy người ngoại, và con cái của họ có nên lập gia đình trong thời điểm mong manh, không bảo đảm vì những cơn bắt bớ nầy không.
Rõ ràng là người Côrinhtô đã hỏi điều mà một tân tín hữu, người đã từng lập gia đình nhiều lần trước khi tin Chúa và đã có nhiều người bạn đời phức tạp từ các cuộc hôn nhân đã qua, nên làm là gì. Chúng ta có thể xác định loại câu hỏi mà người Côrinhtô đã hỏi Phaolô qua một phân đoạn trong chương nầy (17-24). Chúng ta có thể tóm tắt câu trả lời của Phaolô: chúng ta không nên truy tìm quá khứ của một tân tín hữu, để bảo họ tái hôn với người mà trước kia họ đã ly dị hoặc phải ly dị người bạn đời hiện tại của họ. Phaolô dạy ba lần trong phân đoạn nầy: “Rốt lại, ai nấy phải ăn ở theo ơn Chúa đã ban cho mình, va theo như Đức Chua Trơi đa gọi… Ai nấy khi được gọi ở đấng bậc nào thì phải cứ ở theo Đấng bậc ấy…” (17,20,24).
Phaolô dùng từ “kêu gọi” nhiều lần trong thư nầy. Khi nói như vậy là ông muốn đề cập đến kinh nghiệm cứu rỗi của người mà ông đang nhắc đến. Khi một người nam hay nữ đã kinh nghiệm sự cứu rỗi, họ nên cầu xin Đức Chúa Trời ban phước cho cuộc sống lứa đôi mà trong đó, họ tìm thấy chính mình. Nếu đã lập gia đình với người ngoại, họ nên nhớ đến lời dạy của Phaolô trong 7:12-16; nếu chưa lập gia đình, họ nên cầu hỏi Chúa kêu gọi họ sống độc thân hay phải lập gia đình.
Người Độc Thân: Hầu Việc Chúa Không Xao Lãng
Cuối cùng, Phaolô liệt kê giá trị của việc sống độc thân: “Vả, tôi muốn anh em được thong thả chẳng phải lo lang gì. Ai không cưới vơ thì chăm lo việc Chúa, tìm phương cho Chúa đẹp lòng. Song ai cưới vợ rồi thì chăm lo việc đời nầy, tìm cách cho vợ mình thỏa dạ. Người nữ có chồng và đồng trinh cũng khác nhau như vậy: Ai không chồng thì chăm lo việc Chúa, đặng cho thân thể và tinh thần đều được thánh; nhưng ai có chồng thì chăm lo các việc đời nầy, tìm cách cho đẹp lòng chồng mình. Tôi nói điều đó vì sự ích lợi cho anh em, chớ chẳng phải để gài bẫy, song để dắt anh em theo lẽ phải, hầu cho không phân tâm mà hầu việc Chúa” (32-35).
Phaolô dạy rằng cách để phục vụ Chúa mà không bị phân tâm là vẫn sống độc thân để được thuận tiện trong mọi việc. Lời bàn nầy không liên quan gì đến “tai vạ hầu đến” mà ông đã nói trong những lãnh vực khác của chương nầy ma chỉ chú ý hoàn toàn đến tấm lòng của con người đối với Chúa. Để yên tâm trong việc tận hiến, thì tốt hơn là đừng lập gia đình, mặc dù quyết định lập gia đình không làm cho người đó trở thành thấp thế hơn người sống độc thân. Người nữ đồng trinh lập gia đình sẽ có lúc gặp nhiều khó khăn vì không tận tâm được với cả chồng mình lẫn với Chúa nữa. Quyết định sống đời sống độc thân phải là việc làm giữa cá nhân người đó với Chúa, vì chỉ có Ngài có thể cung cấp nhu cau thiết thực va cho con người tìm được sự mãn nguyện thật sự. Phaolô mô tả việc sống độc thân như là một ân tứ.
“Điều Gì Đức Chúa Trời Đã Kết Hiệp…”
Chương hôn nhân nổi bật lên một số câu hỏi khó, điều cơ bản nhất trong đó là “Hôn nhân là gì theo quan điểm của Đức Chúa Trời?” Để đơn giản, trả lời bằng Mathiơ 19:6: “Vậy loài người không nên phân re nhưng ke ma Đức Chúa Trời đa phối hiệp”. Khi hai tín hữu được kết hiệp với nhau qua hôn lễ thánh, tức là họ trao cuộc sống của mình cho người khac vì họ tin rằng Đức Chúa Trời đã kết hiệp hai người với nhau. Họ tin chắc rằng Đức Chúa Trời kết hiệp họ với nhau trên cơ sở đem lại cho hôn lễ của họ sự vững vàng, chứ không phải chỉ là mảnh giấy cho biết hai người đã kết hôn với nhau cách hợp pháp. Khả năng và sự tương hợp có thể thay đổi vô hạn được định rõ dành cho những đôi vợ chồng trên thế gian nầy, quyết định tiến đến hôn nhân nên dựa vào sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời.
Mục sư Dick Woodward
Nguồn: mbc.icm.org
Sơ lược về chương trình Thánh Kinh Lược Khảo (MBC)
Thánh Kinh Lược Khảo (MBC) là chương trình nghiên cứu toàn bộ Kinh thánh, thêm vào đó là các bài giảng trên núi và các chủ đề về hôn nhân và gia đình. Các bài học nầy được xem như là chương trình giảng dạy cơ bản nhằm chăm sóc đời sống Cơ đốc, và hỗ trợ sự tăng trưởng tâm linh cho hội thánh trên toàn cầu thông qua các mục vụ hợp tác quốc tế (ICM). Mục sư Dick Woodward sáng lập khóa học nầy với phương cách độc đáo làm cho cách sách trong Kinh thánh trở nên sống động mà không bị ngăn trở bởi hệ phái tôn giáo và văn hoá nào. Chương trình nầy cung cấp phương pháp tự học Kinh thánh cách dễ hiểu dành cho mọi đối tượng mà không phụ thuộc vào trình độ văn hoá.
Chương trình giảng dạy Thánh Kinh Lược Khảo bao gồm 4 phần:
Bài học được thu âm: Bao gồm các bài học dễ hiểu, lý tưởng cho các nhóm học hoặc cá nhân . Một vài ngôn ngữ chỉ có các bài học dưới dạng nghe nầy, đặc biệt là những nơi có kỹ năng viết và đọc còn thấp.
Sách hướng dẫn dành cho các nhóm trưởng: Các sách nầy được viết cho các nhóm trưởng khi tham gia học chương trình Thánh Kinh Lược Khảo. Chương đầu tiên của bất kỳ giai đoạn nghiên cứu nào cũng có thông tin mở rộng dành cho các nhóm trưởng, tiếp theo là các câu hỏi dành cho nhóm nhỏ thảo luận. Sách hướng dẫn dành cho nhóm trưởng có những câu trả lời được in đậm.
Sách dành cho sinh viên: Các sách nầy hướng dẫn sinh viên học từng bài trong chương trình Thánh Kinh Lược Khảo. Sách bao gồm phần tóm tắt về bài học và các câu Kinh thánh chính, thêm vào đó là các câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu y như trong sách hướng dẫn dành cho nhóm trưởng (Sách nầy không có phần trả lời).
Sách nghiên cứu: Các sách nghiên cứu được cung cấp như là tài liệu bổ sung về bối cảnh bài học cũng như phần giải nghĩa cho các nhóm trưởng. Các sách nầy không theo trình tự như các bài học dưới dạng âm thanh nhưng nó rất giá trị và nâng cao sự hiểu biết giúp ích cho người học trong quá trình nghiên cứu Kinh thánh. Cách tốt nhất để sử dụng sách nầy là đọc chúng như là phần giải nghĩa cho toàn bộ một chuyên mục (ví dụ: Từ Sáng thế ký đến Xuất Ê-díp-tô ký, các bài giảng về phước lành của Chúa Giê-xu trên núi).
Đọc Kinh thánh trong quá trình học như thế nào? Nhiều người yêu cầu MBC liệt kê các đoạn, câu Kinh thánh để họ đọc trước mỗi bài học. Cách học tại đây không dựa vào từng câu Kinh thánh nhưng sử dụng nguyên cả một sách để làm tài liệu cho mỗi bài học. Tốt nhất là phải đọc hết những sách của Kinh thánh trong một chuyên mục nào đó. Ví dụ: Khi học về Tân Ước từ Công vụ các sứ đồ đến Rô-ma, người học cần phải đọc hết hai sách nầy và nghe toàn bộ các bài học ở dạng âm thanh.

