Môn Đồ Hóa Muôn Dân

Bài học 07: Hướng Lên Để Tra Xét

Tân Ước Lược Khảo

Một trong những bài giảng vĩ đại nhất của Ngài là Bài Giảng Trên Núi, một bảng tóm tắt súc tích về lời dạy đạo đức của toàn bộ Kinh Thánh. Chúa Giê-xu dạy về những thái độ cao đẹp và phẩm chất của một môn đệ thật. Các phước lành cho chúng ta thấy những thái độ đúng đắn dành cho Chúa và xuất phát từ Chúa vào thế gian để trở nên một phần trong giải pháp của Ngài. Câu hỏi thiết yếu là: “Bạn là một phần của nan đề, hay bạn là một phần trong giải pháp của Chúa Giê-xu?”

BÀI GIẢNG VĨ ĐẠI NHẤT CỦA CHÚA JÊSUS

Chúa Jêsus có nhiều bài giảng vĩ đại. Trên một phương diện nào đó, thì bài giảng vĩ đại nhất của Ngài chính là Bài Giảng Trên Núi. Bài Giang Trên Núi  được tóm  tat  ngan gọn ve đạo đức của toàn bo Kinh thánh . Đó cũng là bài giảng của Chúa Jêsus dạy về đạo lý và các mối quan he được co đọng lai. Khi xem xét bối canh của bai giang nay được rao ra, chúng ta nhan thay rang đó không phai la một bai giảng điển hình như chúng ta thường nghe trong cac bài giảng hiện nay.

Văn Mạch Của Bài Giảng

Xem xét văn mạch trước khi xét đến nội dung bài giảng vĩ đại của Chúa Jêsus là điều quan trọng. Một trong những nguyên tắc nghiên cứu Kinh thánh, đó là chúng ta phải luôn xem xét các phân đoạn Kinh thánh trong văn mạch của chúng. Từ “văn mạch” nghĩa là “theo bản văn”. Điều nầy luôn quan trọng vì chúng ta biết được điều gì xảy ra với chủ đề chúng ta đang nghiên cứu, điều gì xảy ra trước đó, hoặc điều gì đang diễn ra trong lúc rao giảng, và điều gì sẽ đến sau sự rao giảng hoặc sự kiện mà chúng ta đang nghiên cứu trong một phân đoạn Kinh thánh. Văn mạch sẽ giúp chúng ta giải nghĩa phân đoạn Kinh thánh mà chúng ta đang nghiên cứu.

Ở phần kết thúc của Mathiơ chương bốn, chúng ta tìm thấy sự mô tả của Mathiơ về văn mạch của bài giảng vĩ đại nầy. Chúng ta đọc thấy Chúa Jêsus chữa lành cho nhiều người bệnh đến từ những nơi rất xa, từ các thành phố, các vùng, tất cả đều được Chúa chữa lành (Mathiơ 4:2- 5:1).

Trong khi Chúa Jêsus đang chữa lành cho đoàn dân đông tụ họp quanh khu vực sườn dốc Biển Galilê, Ngài truyền gọi một số môn đồ hãy gặp Ngài tại trên núi là nơi từ bờ Biển Galilê đi lên cao dần (Mác 3:13). Và thế là đoàn dân đông được chia thành hai nhóm. Nhóm ở chân núi bao gồm những người có nan đề. Còn nhóm ở cùng với Chúa Jêsus trên núi là những người ít ra cũng muốn tham gia giải quyết hoặc giải đáp cho các nan đề. Sách Phúc âm Mathiơ chương năm, sáu và bảy ký thuật bài giảng vĩ đại mà Chúa Jêsus đã giảng trong khung cảnh như vậy.

Tôi gọi văn mạch của bài giảng vĩ đại nầy là “Cuộc Tĩnh Tâm Cơ Đốc Đầu Tiên”. Khi Chúa Jêsus sắp xếp cuộc tĩnh tâm nầy thì Ngài cũng đưa ra thách thức: “Bạn là một phần cua nan đe hay bạn muốn là một phần trong việc giải quyết nan đề?” Tại cuộc tĩnh tâm đó, Chúa Jêsus kêu gọi nhiều môn đo cùng tham gia với Ngai để giải quyết nan đề cho những ai đang gặp phải.

Chúa Jêsus đang chăm sóc đoàn dân đông bệnh tật và Ngài biết rằng trong thể xác con người, chỉ là một người đơn lẻ, thì tự Ngài không thể nào giải quyết hết mọi nan đề, cho dù Ngài là Đức Chúa Trời trong hình thể con người, là Con Đức Chúa Trời. Vì thế, Ngài đã phân tích, rồi tổ chức cuộc tĩnh tâm Cơ Đốc đầu tiên. Theo Mác, việc tham gia cuộc tĩnh tâm trên núi được thực hiện là do có lời mời gọi (Mác 3:13).

Trong chương bảy, chúng ta đọc thấy Chúa Jêsus đã kết thúc cuộc tĩnh tâm nầy bằng sự mời gọi đáng sợ. Tôi tin rằng khi Chúa đưa ra lời mời gọi ấy thì chỉ có mười hai người đáp ứng lời Ngài. Dựa vào nhận thức của mình trên thực tế lúc bấy giờ, tôi thấy sau đó không lâu Chúa Jêsus đã xuống núi, và Ngài bắt đầu ủy nhiệm công tác cho các sứ đồ. Tôi tin là Chúa đã huấn luyện mười hai sứ đồ của Ngài trong thời gian của cuộc tĩnh tâm Cơ Đốc đầu tiên.

Nội Dung Bài Giảng

Chúa Jêsus bắt đầu bài giảng bằng những lời giáo huấn các môn đồ về quan điểm Cơ đốc (được gọi là “các phước lành”), là điều sẽ khiến họ cùng dự phần với Chúa để giai quyết những nan đe cho số người ở tại chân  núi  (5:3-12).  Tam  thai  độ  hoac  đức  hanh  nay  mô  ta  sơ  lược  về pham chat đa được rèn dũa của môn đo Chúa Jêsus. Theo Chúa Jêsus, cách chúng ta nhìn vao sự việc có thể sẽ thay điều khac biệt giữa đời sống có sự sáng và đời sống đầy tối tăm (Mathiơ 6:22-23).

Các Phước Lành: Một Số Nhận Xét Chung

Tám thái độ tốt đẹp nầy là nội dung bài giảng, và tất cả phần còn lại của sự dạy dỗ là phần ứng dụng của bài giảng. Những giáo sư và các diễn giả tài ba là những người chỉ cần một ít thời gian để giảng giải về lẽ thật mà họ muốn dạy, và dành phần lớn thời gian để minh họa và ứng dụng lẽ thật đó. Trong bài giảng nầy, Chúa Jêsus là gương mẫu cho chúng ta qua phương pháp đó, Ngài chỉ dành một phần nhỏ thời gian trình bày lẽ thật (các phước lành), và dành hầu hết thì giờ của Ngài để minh họa và ứng dụng các phước lành ấy.

Bối cảnh của bài giảng nầy đưa đến cao trào liên quan đến việc làm thế nào trở thành tín đồ Đấng Christ, là Cơ Đốc nhân. Những thái độ tốt đẹp được mô tả là đặc điểm thu hút để trở thành Cơ Đốc nhân. Bốn câu chuyện ẩn dụ theo sau các phước lành đó – muối, sự sáng, thành phố, và cây đèn – mô tả sự thách thức, liên quan đến phẩm chất đời sống Cơ Đốc khi va chạm với nền văn hóa của thế tục. Vấn đề cơ bản ở đây: “Bạn là người đang có nan đề hay là người cùng tham gia với Chúa Jêsus để giải quyết các nan đề? Bạn là một trong những câu trả lời của Ngài hay bạn vẫn đang là người nêu lên những câu hỏi?”

Có một “đường ranh phân chia thuộc linh” tưởng tượng giữa phước lành thứ tư và thứ năm. Xuyên suốt Kinh thánh chúng ta thấy có một mo hình nổi bat khi Chúa kêu gọi va huấn luyện các nha lãnh đạo cho công việc Ngài. Những   nha lanh đao nay có điều ma chúng ta có thể gọi là: “kinh nghiệm đến” và “kinh nghiệm ra đi”. Họ đã đến với Chúa một cách có ý nghĩa trước khi ra đi kết quả cho Ngài. Họ là người thờ phượng Đức Chúa Trời trước khi trở nên nhân sự cho Ngài. Bốn phước lành đầu tiên giới thiệu những thái độ mà chúng ta cần học để đến với Đức Chúa Trời, và bốn phước lành kế tiếp phác họa những thái độ chúng ta cần học để ra đi cho Ngài.

Tài năng có thể được phát huy trong nơi tĩnh lặng, nhưng tính cách thì phải được phát huy giữa dòng đời, hoặc trong khi chúng ta tiếp xúc, quan hệ với người khác. Bốn phước lành đầu tiên được phát triển trên núi, hoặc ở trong nơi mà sau đó Chúa Jêsus mô tả như là kinh nghiệm “riêng tư” giữa chúng ta với Đức Chúa Trời (Mathiơ 6:6). Chúng ta có thể học hỏi và nuôi dưỡng bốn phước lành đầu tiên trong mối tương giao cá nhân với Đức Chúa Trời, còn bốn phước lành kế tiếp thì chúng ta phải học và phát huy qua mối thông công với mọi người.

Các phước lành được chia làm bốn phần, mỗi phần hai phước lành: nghèo khó về tâm linh là người than khóc; nhu mì là người khao khát sự công nghĩa; người hay thương xót là người có lòng trong sạch; và người làm cho kẻ khác hòa thuận là người chịu sự bắt bớ. Mỗi cặp câu nói về các phước lành đều phát thảo sơ lược cái nhìn thuộc linh nào đó, mà hễ ai là môn đồ Chúa Jêsus thì đều phai học nó trước khi có thể dự phần cùng Ngài giải quyết các nan đề, va trở nên một trong những câu trả lời của Ngài.

Hai phước lành đầu tiên dạy các môn đồ nói thế nầy: “Vấn đề ở đây không phải tôi có thể làm gì mà là Chúa có thể làm gì”, hoặc “Nếu không có Chúa thì tôi chẳng làm chi được”. Cặp phước lành thứ hai nói lên sự thừa nhận của các môn đồ: “Vấn đề ở chỗ không phải tôi muốn gì mà là Chúa muốn gì”. Cap phước lành thư ba bày to bí mật thuộc linh: “Vấn đề không phải ở chỗ tôi là ai hay tôi là gì, mà Chúa là ai và Ngài là Đấng thế nào”. Cặp phước lành thư tư làm chứng cho các kết qua của những phước lành và đưa ra sự thừa nhận: “Vấn đề không phải tôi đã làm gì mà là Chúa đã làm gì”.

Cuối cùng, dường như thể các phước lành đang dẫn dắt chúng ta leo dần lên núi. Phước lành thứ nhất đưa chúng ta lên núi bằng con đường ngắn nhất. Phước lành thứ hai dẫn chúng ta đi xa hơn một chút. Trên đường leo lên núi, sự nhu mì đã chuyển chúng ta từ phước lành thứ ba sang phước lành thứ tư. Và sự đói khat điều công bình của chúng ta dẫn đưa chúng ta lên tới đỉnh núi. Các phước lành “leo núi” nầy là các phước lành đang đến gần.

Mọi sự tĩnh tâm rồi cũng kết thúc, và những người tham dự phải rời khỏi núi. Cac phước lanh san co se đưa chúng ta rời khỏi núi một lần nữa. Khi một môn đồ được no nê sự công bình của Đức Chúa Trời, thì họ sẽ trở nên như thế nào? Phải chăng họ sẽ giống những người Pharisi tự mãn, và tuân thủ luật pháp cách tuyệt đối? Không, chúng ta đọc thấy rằng họ có lòng thương xót, và họ thương xót với một tấm lòng trong sach. Ho có được điều đó vào lúc xuống núi tham gia cùng với Chúa giải quyết các nan đề của đoàn dân đông đang có nhu cầu. Khi các môn đo la người hòa giai thì ho se gap sự bat bớ, chúng ta biết ho lại có mặt tại chân núi một lần nữa la nơi mọi nan đề đang tồn tai.

CÁC PHƯỚC LÀNH: MỘT VÀI NHẬN XÉT CỤ THE

“Phước Cho Người Nghèo Khó Về Tâm Linh”

Chúng ta tự nhận biết mình nghèo khó tâm linh là một thái độ đúng. Thái độ nầy là do tự chúng ta nhận thức, nếu không thì chúng ta sẽ không bao giờ trở thành giải pháp của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải là thần dân của Nhà Vua- Đấng Giải Quyết. Đây là thái độ đầu tiên cần có nếu chúng ta muốn dự phần vào giải pháp để đáp ứng nhu cầu của con người mà Đấng Christ muốn có qua các môn đồ của Ngài. Nói cách khác, thái độ nhận biết mình đang nghèo khó tâm linh chính là “sự khiêm nhường”.

“Phước Cho Những Kẻ Than Khóc”

Thái độ đẹp đẽ thứ hai là: “Phước cho những kẻ than khóc” (Mathiơ 5:4). Sư ứng dụng va giải thích nguyên thủy ve phước  lanh  thứ  hai  la chúng ta sẽ không bao giờ trở thành giải pháp và là câu trả lời của Chúa Jêsus cho tat ca nỗi đau kho ma đoan dân đông ơ chân núi đang phải chịu đựng, nếu như chúng ta chưa từng chịu đựng như họ. Có thể còn cách ứng dụng va giai thích khac cho phước lanh nay la chúng ta hay than khóc khi nhận biết mình đang nghèo khó về tâm linh, hoặc là chúng ta chẳng thể làm chi được nếu không có Chúa.

“Phước Cho Những Kẻ Nhu Mì”

Tính nhu mì là một khái niệm dễ bị hiểu lầm nhất trong Kinh thánh. Nó không có nghĩa là yếu đuối, mà là mềm mại. Hãy hình dung một con ngựa hoang mạnh bạo, nhưng chưa được thuần hóa – một động vật có sức mạnh nhưng chưa từng bị đặt hàm vào miệng, hoặc bị thắng dây cương trên đầu, hay thắng yên trên lưng. Hầu như chẳng ai có thể kiểm soát nổi con thú mạnh mẽ nầy. Nhưng rồi cuối cùng nó cũng phải đầu hang,  chap  nhan  cho  người  ta  đat  ham  thiếc, thang  day cương va đặt yên lên mình nó. Con vật đo la ẩn du ve y nghĩa của từ “nhu mì” ma Kinh thánh đã dùng.

Chúa Jêsus tuyên bố rằng Ngài là Đấng có lòng nhu mì, (Mathiơ 11:28-30). Khi Ngài tuyên bố như vậy, thì ý Ngài muốn nói đến chính điều mà Ngài tuyên bố lần trước. Khi nhắc đến Cha, Ngài nói: “Vì Ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài” (Giăng 8:29). Chúa Jêsus chấp nhận mang ách và mọi quy tắc theo ý muốn của Cha Ngài. Đó là điều khiến cho Ngài trở nên nhu mì. Trong phước lành nầy, Chúa Jêsus muốn dạy rằng chúng ta chỉ có thể dự phần vàp giải pháp và câu trả lời của Ngài cho thế giới nầy khi chúng ta phó thác ước muốn của mình cho Đức Chúa Trời và chấp nhận sự kỷ luật của ý muốn Ngài đối với đời sống cũng như chức vụ chúng ta bất kể ý riêng của chúng ta là tín hữu nào.

“Phước Cho Những kẻ Đói Khát Sự Công Bình”

Phước lanh nay không nói rang chúng ta khao khat hanh phúc ma là sư công bình. Hay quan sát điểm nhan mạnh trong bai giang về lẽ that nầy, môn đồ Chúa phải là người công bình. Thêm vào phước lành nầy, Chúa tuyên bố một phước lành nữa dành cho người chịu bắt bớ vì cớ công bình. Ưu tiên số một của môn đồ Chúa là sự công bình, và sự công bình ấy phải vượt trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người Pharisi (5:10, 20; 6:33).

“Phước Cho Những Kẻ Hay Thương xót”

Từ “thương xót” có nghĩa là “yêu thương vô điều kiện”. “Phước cho người nào nhận lãnh được tình yêu thương tràn đầy, vô điều kiện của Đức Chúa Trời” là một lời diễn giải tuyệt vời của phước lành nầy. Nếu bạn sắp sửa rời núi để trở thành giải pháp cho những ai đang bị tổn thương, thì ắt hẳn bạn phải được đổ đầy tình yêu của Đức Chúa Trời. Đầy dẫy sự công bình đồng nghĩa với đầy dẫy tình yêu của Đức Chúa Trời.

“Phước Cho Những Kẻ Có Lòng Trong Sạch”

Từ “trong sạch” trong phước lành nầy vốn là một từ theo tiếng Hy Lạp có nghĩa gốc từ chữ “đẩy ra”. Ý nghĩa của thái độ nầy là khi một con cái Chúa yêu thương người khác bằng tình yêu vô điều kiện của Chúa, thì mọi động cơ vị kỷ đều sẽ bị đẩy ra khỏi tấm lòng của người ấy.

“Phước Cho Những Kẻ Làm Cho Người Hòa Thuận”

Người làm cho người khác hòa thuận gọi là người hòa giải. Vấn đề chủ yếu đang tồn tại ở chân núi là sự bất hòa. Đa số nan đề của con người bắt nguồn từ mối bat hòa với Đức Chúa Trời và với người khác trong đời sống họ. Đó là lý do tại sao Chúa Jêsus thách thức các môn đồ Ngài tại nơi tĩnh tâm nầy là hãy làm tác nhân cho sự giải hòa.

Theo Phaolô, mục tiêu chính của sứ mạng mà Chúa Jêsus giao phó cho các môn đo Ngài la sư điệp va chức vu giải hòa. Chúng ta hay đi ra và nói với dân chúng rằng: “Vậy, chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhân danh Đấng Christ mà nài xin anh em: Hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời” (II Côrinhtô 5:20).

“Phước Cho Những Kẻ Chịu Bắt Bớ”

Có thể bạn sẽ nghĩ rằng trong thời đại chúng ta, nếu có người sống với những thái độ đẹp đẽ nầy, thì chắc họ sẽ được nhiều người hoan nghênh lắm. Tuy nhiên, phước lành thứ tám nầy nói cho chúng ta biết rằng môn đồ Chúa Jêsus Christ thì sẽ thường xuyên bị bắt bớ vì thái độ sống đẹp đẽ của họ.

Một môn đồ với những thái độ như thế, đặt dân sự trước một kiểu mẫu mà họ phải theo. Tuy nhiên nếu họ trải qua sự đương đầu đó rồi, họ sẽ thú nhận những thái độ sai trái của mình và học hỏi để biết cần phải làm thế nào hầu đạt được những thái độ sống đầy phước hạnh, nhưng cũng có khi họ quay sang công kích những thái độ sống đẹp đẽ đó của các môn đồ. Suốt hơn hai ngàn năm qua, họ thường hành xử theo sự chọn lựa thứ hai.

Sứ giả hòa bình là người có nhiệm vụ đi đến nơi đang có các cuộc xung đột, và thường đó là những nơi vô cùng nguy hiểm. Những môn đồ đích thực, đáng tin cậy của Chúa Jêsus thời ấy – kể cả thời nay – thường phó mạng sống mình cho chức vụ giải hòa. Môn đồ tin kính cũng thường xuyên thực hiện chức vụ giảng hòa ngay trong gia đình mình, trong Hội thánh, nơi hàng xóm láng giềng, trong lớp học và tại nơi làm việc.

Mục sư Dick Woodward

Nguồn: mbc.icm.org

Sơ lược về chương trình Thánh Kinh Lược Khảo (MBC)

Thánh Kinh Lược Khảo (MBC) là chương trình nghiên cứu toàn bộ Kinh thánh, thêm vào đó là các bài giảng trên núi và các chủ đề về hôn nhân và gia đình. Các bài học nầy được xem như là chương trình giảng dạy cơ bản nhằm chăm sóc đời sống Cơ đốc, và hỗ trợ sự tăng trưởng tâm linh cho hội thánh trên toàn cầu thông qua các mục vụ hợp tác quốc tế (ICM). Mục sư Dick Woodward sáng lập khóa học nầy với phương cách độc đáo làm cho cách sách trong Kinh thánh trở nên sống động mà không bị ngăn trở bởi hệ phái tôn giáo và văn hoá nào. Chương trình nầy cung cấp phương pháp tự học Kinh thánh cách dễ hiểu dành cho mọi đối tượng mà không phụ thuộc vào trình độ văn hoá.

Chương trình giảng dạy Thánh Kinh Lược Khảo bao gồm 4 phần:

Bài học được thu âm: Bao gồm các bài học dễ hiểu, lý tưởng cho các nhóm học hoặc cá nhân . Một vài ngôn ngữ chỉ có các bài học dưới dạng nghe nầy, đặc biệt là những nơi có kỹ năng viết và đọc còn thấp.

Sách hướng dẫn dành cho các nhóm trưởng: Các sách nầy được viết cho các nhóm trưởng khi tham gia học chương trình Thánh Kinh Lược Khảo. Chương đầu tiên của bất kỳ giai đoạn nghiên cứu nào cũng có thông tin mở rộng dành cho các nhóm trưởng, tiếp theo là các câu hỏi dành cho nhóm nhỏ thảo luận. Sách hướng dẫn dành cho nhóm trưởng có những câu trả lời được in đậm.

Sách dành cho sinh viên: Các sách nầy hướng dẫn sinh viên học từng bài trong chương trình Thánh Kinh Lược Khảo. Sách bao gồm phần tóm tắt về bài học và các câu Kinh thánh chính, thêm vào đó là các câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu y như trong sách hướng dẫn dành cho nhóm trưởng (Sách nầy không có phần trả lời).

Sách nghiên cứu: Các sách nghiên cứu được cung cấp như là tài liệu bổ sung về bối cảnh bài học cũng như phần giải nghĩa cho các nhóm trưởng. Các sách nầy không theo trình tự như các bài học dưới dạng âm thanh nhưng nó rất giá trị và nâng cao sự hiểu biết giúp ích cho người học trong quá trình nghiên cứu Kinh thánh. Cách tốt nhất để sử dụng sách nầy là đọc chúng như là phần giải nghĩa cho toàn bộ một chuyên mục (ví dụ: Từ Sáng thế ký đến Xuất Ê-díp-tô ký, các bài giảng về phước lành của Chúa Giê-xu trên núi).

Đọc Kinh thánh trong quá trình học như thế nào? Nhiều người yêu cầu MBC liệt kê các đoạn, câu Kinh thánh để họ đọc trước mỗi bài học. Cách học tại đây không dựa vào từng câu Kinh thánh nhưng sử dụng nguyên cả một sách để làm tài liệu cho mỗi bài học. Tốt nhất là phải đọc hết những sách của Kinh thánh trong một chuyên mục nào đó. Ví dụ: Khi học về Tân Ước từ Công vụ các sứ đồ đến Rô-ma, người học cần phải đọc hết hai sách nầy và nghe toàn bộ các bài học ở dạng âm thanh.

Bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.